1. EHP xuất hiện từ khi nào?
EHP (Enterocytozoon hepatopenaei) được ghi nhận theo các mốc chính:
- 2004–2006:
Phát hiện lần đầu tại Thái Lan trên tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei).
Do không gây chết hàng loạt, nên ban đầu ít được chú ý. - 2010–2012:
EHP lan rộng tại nhiều quốc gia nuôi tôm châu Á:- Thái Lan
- Trung Quốc
- Indonesia
- Malaysia
- Việt Nam
2. Vì sao EHP đặc biệt nguy hiểm?
- Vì Nó Không gây chết cấp tính dẫn đếnkhó phát hiện sớm
- Gây hậu quả nghiêm trọng:
- Tôm chậm lớn, phân đàn
- Hao thức ăn, FCR cao
- Kéo dài thời gian nuôi
- Không có thuốc điều trị đặc hiệu
- Dễ lây lan qua:
- Thức ăn tươi sống
- Phân tôm
- Bùn đáy ao
- Dụng cụ, nước dùng chung
- Giống
3. Bốn giai đoạn biểu hiện của EHP trên tôm
GIAI ĐOẠN 1: NHIỄM TIỀM ẨN (Chưa có biểu hiện rõ ràng)
Thời điểm:
- 10–30 ngày sau thả giống
Biểu hiện:
- Tôm ăn và tăng trưởng bình thường
- Không chết, không dấu hiệu bên ngoài
Đặc điểm:
- EHP bắt đầu ký sinh trong tế bào gan tụy, mức độ thấp
- Chỉ phát hiện bằng PCR
- Dễ bị bỏ qua
Đây là giai đoạn vàng để can thiệp bằng quản lý môi trường và dinh dưỡng.
GIAI ĐOẠN 2: CHẬM LỚN – PHÂN ĐÀN
Thời điểm:
- 25–45 ngày nuôi
Biểu hiện:
- Tôm lớn chậm, phân đàn rõ
- FCR tăng
- Gan tụy:
- Nhạt màu
- Teo nhẹ, có thể mềm
- Đường ruột:
- Xoắn lò xo
- Xuất hiện mủ cuối ruột (hạt gạo)
Đặc điểm:
- Giảm hấp thu và chuyển hóa dinh dưỡng kém
- Không gây viêm cấp → dễ nhầm với thiếu dinh dưỡng
GIAI ĐOẠN 3: SUY GAN TỤY – HIỆU QUẢ NUÔI GIẢM MẠNH
Biểu hiện:
- Tôm chậm lớn, ngừng lớn, ăn không tăng.
- Đường ruột:
- Đứt khúc, xoắn lò xo rõ
- Phân trắng/xám
- Xuất hiện phân trắng(do tế bào gan tụy và biểu mô ruột bong tróc).
- Gan tụy: nhợt nhạt, mất màu (do tế bào bị tổn thương).
- Tôm:
- Tăng trưởng rất thấp
- Đầu to, thân nhỏ
- Quan sát thấy các bào tử EHP (vật kính 100x) trong tế bào ống gan tụy bị biến dạng.
- Tôm chậm lớn, ngừng lớn, ăn không tăng.
Nguy cơ kế phát:
- Vi khuẩn Vibrio
- Hội chứng phân trắng (WFS)
GIAI ĐOẠN 4: MÃN TÍNH – THẤT BẠI KINH TẾ
Biểu hiện:
- Tôm không lớn thêm
- Hao thức ăn nghiêm trọng
- Gan tụy tổn thương nặng, tế bào bị phá hủy nhiều
- Phân trắng xuất hiện rõ
Thu hoạch:
- Size nhỏ, không đồng đều
- Giá bán thấp
Hệ quả:
- Không chết hàng loạt nhưng lỗ nặng
- Nuôi kéo dài để “gỡ” thường thất bại
4. Kết luận:
- EHP không giết tôm nhanh, nhưng giết hiệu quả kinh tế.
- Phát hiện càng muộn – thiệt hại càng lớn.
5. Giải pháp xử lý và phòng ngừa ehp thế nào chuyên gia.
- Kiểm soát con giống là yếu tố bắt buộc
- Cải tạo ao & cắt nguồn lây
- Hút – loại bỏ bùn đáy cũ
- Phơi đáy ao đủ thời gian
- Diệt mầm bệnh nền đáy bằng:
- Vôi (CaO) đúng liều
- Chlorine/TCCA (đúng quy trình)
- Không dùng lại nước ao cũ
- EHP tồn tại dai dẳng trong bùn đáy & phân tôm
- Khi diết hết các trung gian truyền bệnh sẽ ngặn chặn và hạn chế sự phát triển của ehp
Quản lý thức ăn & nguồn lây gián tiếp
- Tránh Thức ăn tươi chưa xử lý,
- Khi phát hiện ehp ở giai đoạn 1 và 2 nếu tôm vẫn phát triển tốt thực hiện nghiêm 2 yếu tố sau
+ nên dùng thức ăn có ộ đạm thấp và giảm thức ăn lại so với bình thường. Ehp làm tổn hại tế bào gan, nên dùng thức ăn có độ đạm cao và tăng lên, gan quả tải giúp ehp bùng phát nhanh thêm
+ sử dụng các thuốc bổ trợ chức năng gan , loại cao cấp chất lượng ví dụ như bioliv – của công ty bio tech .
+ bổ sung emzyme và lợi khuẩn hộ trợ tiêu hoá.
- Khi ehp ở giai đoạn 3 và 4 tốt nhất nên thu, vì tôm không tăng trưởng, chi phí cao, hao hụt lớn. nuôi tiếp thiệt hại nặng
- Lưu ý: vi bào tử trùng ehp không có thuốc đặc trị, không nghe quảng cáo để mua thuốc trị EHP , sẽ tốn tiền và thiệt hại nặng hơn.
Eric (Công ty Biotech)




